KỆ TỤNG VỀ NGUỒN GỐC. Aggihuttaṃ mukhā yaññā. Các sự cúng dường, nhứt là cúng thần lửa, là gốc của đạo Bà-La-Môn. Sāvitti chandaso mukhaṃ. Kinh SĀVITTISATTHA là gốc của các Kinh CHANDASATTHA. Rāja muk
Tôi xin dâng các lễ vật nầy, nhứt là nhang đèn để cúng Phật, Pháp, Tăng, Tam bảo, ngưỡng cầu cho các bậc ân nhân, nhứt là cha mẹ tôi và tôi đều được sự tấn hóa, sự lợi ích, sự bình an lâu dài. (lạy) B
Vi Diệu Pháp chắc chắn là vô cùng hữu ích để thấu đạt giáo huấn của Ðức Phật một cách đầy đủ và chứng ngộ Niết Bàn, vì pháp nầy là chìa khóa để mở cửa vào thực tại. Pháp nầy đề cập đến những thực tại
Hành pháp là đem những điều học được áp dụng cho đời sống hàng ngày. Vi Diệu Pháp sẽ thích ứng, và hết sức bổ ích cho cả hai việc làm đó. Vi Diệu Pháp giúp cho ta một kiến thức cơ bản, không bị lầm lẩ
Lộ ngũ môn cảnh rất lớn với ba phương thức: chót Na cảnh, chót đổng lực và chót hữu phần Khách đã được trình bày. Điều cần ghi nhận là: Đối với cảnh rất lớn, cho dù diễn biến theo phương thức nào cũng
Trong đạo Phật, chúng ta thường nghe câu "Ba giới, sáu đường luân hồi" (Tam giới, lục đạo luân hồi). Ðây là một cách diễn tả quan niệm về các hình thái hiện sinh của mọi loài luân hồi trong cõi Ta bà
Kinh Phạm Võng là kinh đầu tiên trong Trường bộ kinh và qua toàn văn chúng ta cũng đủ hiểu giá trị của kinh này như thế nào. Như lời của Ngài Bodhi trong phần giới thiệu: "Phạm Võng đứng hàng đầu tron
Kinh Phạm võng (Brahmajàla sutta) Tụng phẩm thứ nhất 1. N hư vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Ràjagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị.
Cấp Cô Ðộc xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc"." -- Thưa vâng, Tôn giả. Người ấy
Là Phật tử, tất cả chúng ta đều có chung nhận định về ông Sú Ðát Tá (Sudatta), tức nam cư sĩ Cấp Cô Ðộc, người có công rất lớn trong sứ mạng hành trì chánh pháp và cải tiến xã hội thời đức Phật trụ th
Ðáp lại lòng mong mỏi của chư Phật tử, chúng tôi mạn phép đúc kết lại thành một quyển "Kinh Nhật Tụng của cư sĩ". Kính dâng phần phước pháp thí đến Hòa Thượng Hộ Tông và các vị cao Tăng đã dầy công so
Tứ Diệu Đế và Con đường giải thoát. Bình Anson trích dịch. Trí tuệ trong Đạo Phật - Trích dẫn kinh điển Nguyên Thủy. Hòa thượng Thích Minh Châu. Tu phước và tu huệ. Thích Nhất Hạnh. Duyên khởi và Vô n
nguyện chánh pháp được phổ biến, nguyện mọi người sống đời được vui đạo, cho nên bài viết trong các tập sách cư trần lạc ðạo được hoan hỷ cúng dường chư phật tử mười phương, để tùy nghi xử dụng đem lợ
Nghĩa là con người biết tu tâm dưỡng tánh, có thể cải sửa được cuộc đời, chuyển hóa được cuộc sống, từ phiền não và khổ đau trở thành an lạc và hạnh phúc. Nếu chỉ biết tin theo số mạng hay định mạng,
Hướng Dẫn Đọc Tam Tạng Kinh Điển Gs. U KO LAY Yangon, Miến Điện Phật Lịch: 2546 - Dương Lịch: 2003 - Miến Lịch: 1365 Nguyên tác: "Guide to Tipitaka" Tỳ khưu ni Huyền Châu dịch Lưu ý: Ðọc với phông chữ
Tam Tạng Kinh Điển Nguyên Thủy (Tam Tạng - Tipitaka) I. Luật tạng (Vinaya Pitaka - Disciplinary and Procedural Rules) Luật tạng Pali gồm 5 quyển chính: Căn Bản Giới, Parajika Pali (Major Offences) Tiể
Tỷ-kheo giới của Tứ phần luật có 250 giới điều, tự chia ra 8 loại, nhắc lại, 8 loại ấy là: một, khí, có 4; hai, tăng tàn, có 13; ba, bất định, có 4; bốn, xả đọa, có 30; năm, đọa, có 90; sáu, hối quá,
TỰA THUYẾT GIỚI 1. Cúi đầu lễ chư Phật, Tôn Pháp, Tỳ-kheo T ăng, Nay diễn pháp Tỳ-ni, Để Chánh pháp trường tồn. 2. Giới như biển không bờ, Như báu cầu không chán, Muốn hộ tài sản Thánh, Chúng họp nghe
Thắng Pháp Tạng gồm có 7 quyển: 1. Pháp tụ (Dhammasangani) 2. Phân biệt (Vibhanga) 3. Giới thuyết (Dhatukatha) 4. Nhân thi thiết (Puggala Pannatti) 5. Biện giải (Kathavathu) 6. Song luận (Yamaka) 7. N
Tự điển Pali-Việt Hòa thượng Bửu Chơn - N - NA in. phụ từ không, không có. NAKULA m. một loại chồn. ... NU phân từ quyết định thường dùng để nối với nghi vấn đại danh từ. NUDA, NUDAKA a. đuổi, trục xu
N hững động từ của tiếng Pāli khác hẳn với động từ của Âu Châu. Ở Âu Châu họ thường dùng động từ vị biến cách (infinitive) và khởi sự với ngôi thứ nhất. Còn động từ Pāli lại ít dùng đến vị biến cách v
Quy Y Tam Bảo Tự Tâm. Phật pháp bao giờ cũng phải đủ hai mặt, Tam Bảo bên ngoài là đối tượng, Tam Bảo tự tâm là bản chất. Nương tam bảo bên ngoài, chúng ta phát triển Tam Bảo của tự tâm. Trong ngoài h
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976-1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980-1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại
những đặc điểm của Kinh tạng Nikàya Thích Viên Giác K inh tạng Nikàya, Pàli và A-hàm Hán tạng là những bộ kinh thuộc Phật giáo truyền thống, còn gọi là Kinh tạng Nguyên thủy. Đó là những bộ kinh chứa
Thiền sư S.N. Goenka đã phát biểu rằng: "Giải thoát chỉ có thể đạt được qua tu tập chứ không phải qua bàn luận." Tham dự khóa tu thiền Minh Sát Tuệ là một cơ hội để thực hiện những bước tiến cụ thể hư
Phần I. Chuyển Pháp Luân (Pháp sư Maha Thongkham giảng) I.1 Bố cáo Chuyển Pháp Luân I.2 Chuyển Pháp Luân I.3 Luận về Khổ I.4 Luận về Nguyên nhân của Khổ I.5 Luận về sự Khổ diệt I.6 Luận về Con đường d
Kinh Chuyển Pháp Luân Dhammcakkappavattana sutta Giới thiệu: Ðây là bài Pháp đầu tiên Ðức Phật thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển sau khi Ngài đắc đạo. Bài Pháp nầy tóm tắt cá
Như chúng ta đã nói lúc đầu, việc chứng thiền cần phải hiểu từ hai khía cạnh: một là sự đoạn trừ các pháp gây chướng ngại cho việc chứng thiền, hai là sự có mặt của các thiền chi tạo nên các thiền chứ